Home VĂN HOÁ CHAMVĂN HÓA VEDA – UPANISHAD : TỪ ẤN ĐẾN CHĂM

VEDA – UPANISHAD : TỪ ẤN ĐẾN CHĂM

bởi admin
0 BÌNH LUẬN

Nói đến Văn hóa Văn minh Champa thì không thể không nói đến Văn hóa Văn minh Ấn Độ. Bởi Văn hóa Chăm khởi nguồn từ Ấn, nói đúng hơn nền văn minh Chăm có được diện mạo hôm nay là nhờ sự tiếp nhận và tiếp biến từ nền văn minh Ấn vốn là cái nôi của mọi nền văn hóa cổ của châu Á nói riêng và của thế giới nói chung. Dấu ấn đặc biệt và quan trọng nhất là sự du nhập tôn giáo Balamôn từ Ấn vào Chăm, giao thoa hòa quyện vào tín ngưỡng bản địa để hình thành Balamôn Chăm một cách linh diệu hài hòa. Khi Balamôn Ấn suy vi nhường chỗ cho các thế lực tôn giáo khác mạnh hơn, cũng là lúc sinh hoạt tôn giáo chính trị xã hội Chăm thăng trầm nhiều biến đổi. Trong khi nhiều nước láng giềng vùng Đông Nam Á từ bỏ Balamôn để theo Phật giáo, Hồi giáo hoặc những tôn gióa khác thì Chăm vẫn giữ được truyền thống tôn giáo từ buổi khởi thủy ban đầu. Đó là đặc điểm cần được trân trọng và đánh giá đúng mức khi mỗi người Chăm muốn nhìn lại chính mình để tồn tại và phát triển, hội nhập và hòa nhập với cộng đồng trong một thế giới phẳng không bị cô lập hoặc hòa tan. Hôm nay, Chăm có nhiều bộ phận theo tôn giáo khác bởi nhiều biến cố lịch sử kinh tế xã hội dẫn đến nhiều thay đổi lớn trong sinh hoạt đời sống. Nhưng suy cho cùng, muốn nghiên cứu thấu đáo về Chăm thì Chăm Balamôn vẫn là đối tượng gốc để truy nguyên về cội nguồn Champa xưa. Những đền tháp tượng đài bia kí trong văn hóa vật thể, những bộ kinh sách vẫn còn lưu truyền và ứng dụng trong các giới chức sắc Chăm, những vần Ariya huyền hoặc vẫn còn ngân nga đây đó phản ảnh văn hóa phi vật thể Chăm vẫn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt phi thường! Tuy nhiên, không ít người Chăm tự hỏi Balamôn Chăm là gì và sự liên đới tiếp biến từ Ấn đến Chăm như thế nào? Chúng ta thử tiếp cận bộ thánh kinh Veda Upanishad để làm sáng tỏ phần nào vấn đề…

Bộ Thánh kinh Veda qua 3.000 năm nay vẫn được coi là Thánh điển căn bản của Balamon giáo. Veda có từ gốc là Vid, nghĩa là hiểu biết, đơn giản có nghĩa là một sưu tập những kiến thức hiện có của thời đại. Đó là một mớ lộn xộn nhiều thứ: những bài thánh ca cầu nguyện, nghi lễ giết vật cúng thần, thần chú ma thuật, thơ ca về thiên nhiên tuyệt diệu… Bộ kinh chia thành 4 phần, ứng dụng vào 4 phương diện hành lễ cao thấp và kinh nghĩa khác nhau.

  • Rig Veda: có nghĩa là tri thức về tán ca. Gồm những bài thánh tán ca để cầu khẩn, cầu nguyện và xưng tụng công đức những bậc Thượng đẳng thần. Bộ này dành riêng cho những bậc chức sắc cao cấp nhất trong thánh đường gọi là Hotri (Khuyến thỉnh sư) tụng niệm ca hát khi hành lễ.
  • Sama Veda: có nghĩa là tri thức về các giai điệu. Gồm những bài văn ca chầu trong khi hành lễ. Những bài ca tùy hoàn cảnh, tùy tâm hướng của những thủy tổ các thị tộc mà biên soạn rồi trao những thầy công văn gọi là Udgart (Ca vịnh sư). Sama Veda được coi như những quyết định bất khả di dịch về tộc luật của các thị tộc, được mở đầu và kết thúc bằng âm chữ Aom thiêng liêng huyền bí.
  • Yajur Veda: có nghĩa là tri thức về các nghi lễ. Tập hợp những thể thức cúng bái thần linh trong nghi lễ hiến tế, hành lễ theo trật tự thứ bậc các vị thần. Kinh này còn dạy cách bày các loại tế khí, cách bày đồ lễ lên bàn thờ và cách dâng vật lễ khi cúng tế. Tế tự Veda là kinh chuyên dùng cho các Hành lễ sư (Adhvaryu).
  • Atharva Veda: có nghĩa là tri thức về những thần chú. Gồm phần lớn là các công thức phù phép ma thuật bí hiểm dùng để cúng cầu đảo, giải hạn, đem lại điều tốt lành may mắn cho bản thân và gieo tai họa cho kẻ thù. Kinh này dành cho Kỳ đảo sư (Brahman), được coi là Thánh kinh cao trọng nhất ở buổi sơ khai của đạo Balamôn. Về sau, giới Khuyến thỉnh sư lấy bộ Rig Veda thay thế lên hàng đầu nên bộ Atharva Veda mới chuyển xuống thành đệ tứ đẳng thánh kinh cho đến ngày nay.

Về kết cấu của kinh Veda cũng như ứng dụng vào bốn phương diện hành lễ thì Tứ đẳng cấp của Balamon Ấn tương ứng với Balamon Chăm như sau:

  • Rig Veda dành cho Khuyến thỉnh sư (Hotri) từ Ấn chuyển qua Chăm thành Gal Bac cho Giáo phẩm Basaih mà cao nhất là Po Dhia.
  • Sama Veda dành cho Ca vịnh sư (Udgart) từ Ấn chuyển qua Chăm là Danak của Giáo phẩm Kadhar mà cao nhất là Kadhar Gru.
  • Yajur Veda dành cho Hành lễ sư (Adhvaryu) từ Ấn chyển sang Chăm là Damnưy của Giáo phẩm Mưdwơn mà cao nhất là Mưdwơn Gru.
  • Atharva Veda dành cho Kỳ đảo sư (Braman) từ Ấn chuyển sang Chăm là Kadha của Giáo phẩm Kalơng mà cao nhất là Gru Kalơng.

Trong 4 giáo phẩm ấy tuy có có vai trò và chức năng biệt lập nhau nhưng luôn tương hỗ lẫn nhau trong nghi thức hành lễ. Trong 4 giáo phẩm này lại phân chia làm làm 2 phẩm trật mang tính âm dương lưỡng hợp trong các nghi lễ tế tự đời thường. Giáo phẩm Basaih và Kadhar phục vụ cho Thượng đẳng thần thuộc về thượng giới mà Chăm gọi là Nabi Debita. Giáo phẩm Mưdwơn và Kalơng phục vụ Hạ đẳng thần thuộc về hạ giới mà Chăm gọi là Nabi Adam. Mỗi giáo phẩm có một tư thế riêng không thể thay thế nếu không thuộc lãnh vực chuyên trách. Muốn lên mở cửa Tháp hay lễ nhập Kut, Ca vịnh sư Kadhar không xin phép thần linh trước thì Po Dhia cũng không có quyền làm lễ. Người Chăm chết đi phải có Gru Kalơng rửa tội mới đủ thủ tục đem chôn hay làm đám tang. Nếu người chết bất đắc kỳ tử, Po Dhia làm xong phần việc của mình chưa đủ còn phải cần Gru Kalơng kỳ đảo sau cùng thì người chết mới an nhiên về cõi vĩnh hằng đời đời với tổ tiên. Có một sự nhầm lẫn đáng tiếc từ khi Islam du nhập vào Chăm tạo nên một tiền đề mới từ lịch sử đến tôn giáo. Vị vua đầu tiên của Chăm là Po Âuluah tức là thánh Alla của đạo Hồi mang tính áp đặt nhất thời của thế lực mới. Vai trò của Basaih và Kadhar bị gạt bỏ để thay thế bằng giáo phẩm Acar và Hakem nên được gọi là Gru Urang bởi không phải là Gru Drei. Vai trò của Mưdwơn và Kalơng gần gũi với tín ngưỡng dân gian Chăm nên được duy trì theo truyền thống bởi không ảnh hưởng nhiều đến nghi lễ tôn giáo. Trớ trêu thay, người Chăm Balamôn lại nghĩ hai giáo phẩm này là sản phẩm của Hồi giáo nên gọi họ là Gru Urang chứ không phải là Gru của hệ thống tôn giáo dân tộc đã có từ bao đời. Có người lại tưởng tượng Giáo phẩm Mưdwơn là một biến cải đời mới để hòa hợp nghi lễ giữa Chăm Balamon và Bani trong tình hình nhiễu nhương của lịch sử. Đáng tiếc lắm thay!

Trong mỗi bộ kinh trong bốn giáo phẩm trên lại phân chia làm 4 nội dung khác nhau được gọi là Samhita. Những thánh kinh chủ yếu Samhita lại tùy ý nghĩa nội dung của mỗi loại mà xếp vào một ngành của nền văn hóa dân tộc như:

  • Mantra: Thánh thư, ca tụng cầu nguyện thần linh dưới dạng thi ca.
  • Bramana: Tế nghi thư, Phạn chí hay kinh Balamon, là những bài kinh cầu nguyện giải thích các nghi thức tế tự chuyên dùng cho các tu sĩ chức sắc cao cấp Balamôn.
  • Aranyaka: Sâm lâm thư hay còn gọi là Kinh Rừng, dùng cho các nhà tu khổ hạnh không còn liên quan gì đến gia đình. Đó là những đạo sĩ già lúc đã trả xong nợ dòng tộc, không còn đủ sức chủ trì các buổi tế lễ nữa. Họ lui về chốn rừng sâu tĩnh mịch để thiền định, trầm tư mặc tưởng về lẽ uyên nguyên của vũ trụ, về bản chất của đời sống, về giá trị nhân sinh cùng những khía cạnh triết lí thượng hình huyền vi của Đạo.
  • Upanishads: Áo nghĩa thư nghĩa là kinh sách có ý nghĩa thâm sâu uyên áo, là những kinh bình chú lí giải mang tính chất triết học tôn giáo, phân tích phát triển ý nghĩa triết lí sâu xa của kinh Veda. Upanishads được coi là tác phẩm triết học hoàn chỉnh của triết học Ấn Độ, trong đó nêu lên hàng đầu về nguyên lí vũ trụ, tinh thần sáng tạo vũ trụ, tuyệt đối tối cao Brahman, về bản chất và ý nghĩa của đời sống tâm linh con người. Dùng cho các triết gia, người thường khó mà lĩnh hội!

Có thể nói Bramanas (Phạn chí), Aranyaka (Kinh rừng) và Upanishad (Áo nghĩa thư) là nhựng kinh tiếp tục bình chú và giải thích các mặt phát triển khác nhau của kinh Veda ở giai đoạn đầu, nhất là về mặt tế tự tôn gióa và về mặt triết học. Trong đó kinh Aranyaka như là chiếc cầu nối hay bước chuyển tiếp từ Bramanas sang Upanishads, từ triết lí thần thoại sang triết học.

Upanishad có nghĩa gốc là thị tọa, cận tọa, hàm ý những lời lời lẽ cao đẹp của giới quyền quý học nhiều biết rộng nghĩ sâu. Upa có nghĩa là gần, Ni là cung kính trang nghiêm và Shad là ngồi. Theo nghĩa đó, Upanishad là bí giáo mà ông thầy truyền dưới chân cho các môn sinh gần gũi thân tín khi họ cung kính ngồi dưới chân thầy. Nói cách khác Upanishad là một hình thức giáo hóa tâm truyền hoặc ấn truyền cho những môn sinh có đủ tố chất về phẩm hạnh và trí tuệ để tiếp nhận những tri thức vượt khỏi đời thường. Upanishad không phải là tác phẩm triết học có hệ thống triết lí mạch lạc vì nó tập hợp tư tưởng của nhiều triết gia, đạo sĩ trong những hoàn cảnh và thời gian khác nhau. Nó không có sự phân định rạch ròi giữa triết lí và tôn giáo. Nó cố gắng đi tìm bản chất sâu kín của vũ trụ, chìm sâu trong cái bề mặt thiên hình vạn trạng của thế giới rồi thành kính thể nhập vào cái bản thể tuyệt đối đó. Upanishad còn tồn tại trong kinh sách Chăm thế nào không ai biết, không ai cần biết?! Có lẽ hồn nó vẫn còn bàng bạc trong Paoh Catwai Glơng Anak… cũng chẳng ai hiểu ai hay! Chăm đã mất nhiều thứ không chỉ Veda Upanishad, vài lời cảnh tỉnh để Chăm không thể đánh mất chính mình trong làng toàn cầu hôm nay và mai sau…

 

Jalok
trích Tagalau 19, Rija Nâgar 2016

BÀI LIÊN QUAN

Để lại lời bình